TRANH CHẤP VỀ TRẢ HÀNG THEO VẬN ĐƠN ĐÍCH DANH
Banking Review Volume 18 9/2011
Nguyễn Hữu Đức
Trên báo Diễn đàn Doanh nghiệp số ra ngày 25/2/2009 LS Võ Nhật Thăng, Trọng tài viên VIAC, có đăng bài viết “Phán quyết lạ thường về vận đơn” cho rằng phán quyết của Tòa Sơ thẩm (Việt Nam) đối với vụ tranh chấp giữa SH (người gửi hàng) và TK (công ty giao nhận/người vận chuyển) liên quan đến trả hàng theo vận đơn đích danh là “lạ thường” và trái ngược với pháp luật của Việt Nam cũng như thông lệ hàng hải quốc tế.
Người viết bài này đã có cơ hội chia sẻ quan điểm của LS Thăng trên LCM Trade Services Update Volume 13, Issue 3/4, May– August 2011 và đã nhận được nhiều ý kiến phản hồi khác nhau của các chuyên gia quốc tế và đây cũng là cở sở để người viết thực hiện bài viết này.
TÓM TẮT TRANH CHẤP
(Tên đầy đủ của các bên liên quan đã được thay đổi)
Cuối năm 2006, Công ty SH Việt Nam (SH) ký hợp động bán một container gồm 2.970 túi xách và balô cho Công ty EPE Australia (EPE) theo giá FOB TP HCM 87.035 USD. Hợp đồng mua bán đơn giản chỉ có một trang, không đề cập khi nào quyền sở hữu lô hàng chuyển từ người bán sang người mua.
Sau khi ký hợp đồng mua bán, EPE uỷ thác Công ty Giao nhận Vận tải TK Việt Nam (TK) thuê tàu chở hàng từ TP HCM đến Sydney. TK ký hợp đồng lưu cước với người vận chuyển Mitsui O.S.K Lines (MOL).
Ngày 20/12/2006 hàng được bốc lên tàu tại TP HCM, MOL cấp vận đơn chủ (Master B/L) cho TK, trên cơ sở đó TK cấp vận đơn thứ cấp (House B/L) theo mẫu FIATA cho SH với tư cách là người giao hàng. Vận đơn ghi rõ EPE (cùng với địa chỉ) là người nhận hàng đích danh ở cảng đích.
Ngày 6/1/2007 hàng đến Sydney.
Ngày 14/1/2007 MOL giao hàng cho đại lý của TK. Do EPE không đến nhận hàng, phí lưu kho, phạt lưu container lên đến 19.000 AUD.
Ngày 1/3/2007 đại lý của Tonkin đưa hàng vào kho ngoại quan của Hải quan Sydney để xử lý.
Ngày 14/4/2007, SH ra lệnh cho TK đưa hàng về Việt Nam nhưng TK không thực hiện với lý do hàng đã đưa vào kho ngoại quan, hơn nữa, đây là vận đơn đích danh nên SH không thể ra lệnh chở hàng về.
Ngày 14/5/2007, EPE đến kho ngoại quan nhận hàng, nhưng đại lý của TK không thu hồi vận đơn gốc.
EPE nhận hàng nhưng sau đó không thực hiện thanh toán số tiền còn lại cho SH. SH khởi kiện TK ra Tòa Sơ thẩm đòi bồi thường 1,7 tỷ đồng bao gồm trị giá FOB của lô hàng 87.035 USD và khoảng 350.000 VNĐ là phí lưu kho lưu bãi.
Lý lẽ của nguyên đơn
Trước Tòa, nguyên đơn (SH) cho rằng vận đơn này về hình thức có vẻ đích danh nhưng thực chất là vận đơn theo lệnh. Ô chữ “người nhận hàng” ở mặt trước chỉ là ô chữ ghi lại tên và địa chỉ chứ không có nghĩa đấy là người nhận hàng đích danh. SH đang nắm giữ bản gốc nên vẫn là chủ sở hữu lô hàng.
Nguyên đơn cho rằng cho dù là vận đơn là vận đơn đích danh nhưng vẫn có thể chuyển nhượng được vì Điều 3.1 mặt sau ghi rằng “Vận đơn này được ký phát theo hình thức có thể chuyển nhượng được trừ khi nó được ghi không thể chuyển nhượng được” (This FBL is issued in a negotiable form unless it is marked “non-negotiable).
Nguyên đơn cũng cho rằng hợp đồng mua bán của họ là hợp đồng có giá FOB TP HCM 87.035 USD chứ không phải là hợp đồng giao hàng theo điều kiện FOB Incoterms 2000. Vì vậy họ vẫn có quyền khởi kiện người vận chuyển để đòi bồi thường.
Lý lẽ của bị đơn
Bị đơn (TK) khẳng định SH đã ký hợp đồng mua bán quá sơ sài và lỏng lẻo với công ty ma thì phải tự gánh lấy hậu quả (Tại phiên tòa, TK thông báo theo website đăng ký doanh nghiệp của Chính phủ Australia www.abr.business.gov.au, không có công ty nào có tên là EPE với mã số ABN2912062554-NSW 2020).
Mặt khác, bị đơn theo Điều 62 Luật Thương mại VN, do hợp đồng mua bán không quy định về việc khi nào quyền sở hữu về lô hàng chuyển từ người bán sang người mua nên quyền sở hữu lô hàng này đã chuyển sang người mua kể từ ngày 20/12/2006, (tức ngày giao hàng ở TP HCM).
Ngoài ra, bị đơn còn khẳng định rằng vận đơn do họ cấp “Ghi rõ tên người nhận hàng gọi là vận đơn đích danh” như Điều 86, khoản 1, Mục a Bộ Luật Hàng Hải Việt Nam quy định. Đã là vận đơn đích danh thì không chuyển nhượng được và người nhận hàng có tên trong vận đơn đích danh là người nhận hàng hợp pháp và phù hợp với quy định trong Incoterms 2000, chỉ có họ mới có quyền khởi kiện người vận chuyển nếu thiệt hại thực tế xảy ra do lỗi của người vận chuyển.
Bị đơn cũng yêu cầu Tòa tham khảo án lệ liên quan đến quyền khởi kiện của người gửi hàng theo vận đơn đích danh mà Tòa án Nhân dân và Tòa án Phúc thẩm Tối cao xét xử năm 2004 -2005. Cả hai tòa đều căn cứ theo Bộ Luật Hàng hải Việt Nam để cho rằng vận đơn đích danh là vận đơn không được chuyển nhượng và chỉ người có tên ghi trên vận đơn là người nhận hàng hợp pháp, và chỉ người nhận hàng mới có quyền khởi kiện người vận chuyển.
Phán quyết của Tòa Sơ thẩm
1. Căn cứ vào Điều 3.1 mặt trước của vận đơn (Toà đã nhầm lẫn, thực tế là mặt sau của vận đơn), vận đơn này không phải là vận đơn đích danh mà thực chất là vận đơn theo lệnh.
2. Toà cho rằng các chứng từ Hợp đồng mua bán, Hoá đơn thương mại, Tờ khai hải quan hàng xuất khẩu của lô hàng này không thể hiện rõ điều kiện giao hàng FOB.
3. TK phải bồi thường cho SH 57.000 USD (sau khi đã trừ đi phần không ăn khớp giữa hợp đồng mua bán, hoá đơn thương mại, tờ khai thương mại, tờ khai hải quan hàng xuất khẩu và số lượng hàng trên vận đơn).
Bình luận của LS Võ Nhật Thăng
LS Thăng cho rằng phán quyết trên của toà án này đã đi ngược lại thông lệ hàng hải và thương mại quốc tế cũng như luật pháp Việt Nam và luật pháp Australia (nơi hàng đến).
LS thăng cho rằng có lẽ trong lịch sử phát triển hơn 300 năm của ngành hàng hải thế giới lần đầu tiên có một toà án lại căn cứ vào mặt sau (toà nhầm lẫn gọi là mặt trước) để phán quyết một vận đơn là đích danh hay theo lệnh.
Bản thân Toà nói rằng Hợp đồng thương mại, Hoá đơn thương mại, Tờ khai hàng xuất khẩu không thể hiện rõ điều kiện giao hàng FOB, trong k
hi đó Hợp đồng mua bán ghi rõ: “Giá hàng FOB thành phố Hồ Chí Minh 87.035USD” và Hoá đơn thương mại cũng ghi rõ: “Giá FOB thành phố Hồ Chí Minh 87.035 USD, đồng thời Tờ khai hải quan hàng xuất khẩu lô hàng này đề ngày 18/12/2006 ở ô số 20 ghi rõ: “Điều kiện giao hàng: FOB”. Đây không phải là hợp đồng giao hàng theo điều kiện FOB thì nó là hợp đồng giao hàng theo điều kiện gì?”.
Kết luận bài viết LS Thăng cảnh báo các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hoá theo Incoterms 2000 (nay là Incoterms 2010) ra nước ngoài, nhất là thị trường Anh, Mỹ, Australia, Ấn Độ… nên sử dụng vận đơn theo lệnh để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, hết sức tránh dùng vận đơn đích danh, nhất là khi xuất hàng sang các thị trường áp dụng luật án lệ như những nước nói trên.
PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN
Trong bài viết này, người viết căn cứ các quy định tại Bộ Luật Hàng hải Việt Nam 2005 (BLHHVN) và thông lệ hàng hải quốc tế để xem xét quyết định của Tòa Sơ thẩm có phù hợp với luật pháp Việt Nam và thông lệ hàng hải quốc tế hay không.
Vận đơn đích danh là gì? Vận đơn đích danh có phải là chứng từ sở hữu hàng hóa? Người nhận hàng đích danh có phải xuất trình vận đơn gốc cho nhà chuyên chỏ?
Trong vận chuyển đường biển quốc tế có hai loại vận đơn phổ biến được biết đến, đó là vận đơn theo lệnh (to order bill of lading) và vận đơn đích danh (straight bill of lading).
Vận đơn theo lệnh là chứng từ sở hữu hàng hóa (document of title) được lập theo lệnh ký hậu để trống (to order blank endorsed) hoặc theo lệnh của một bên được chỉ định, ví dụ, theo lệnh của Công ty ABC (to the order of ABC Company. Vận đơn theo lệnh cho phép người cầm giữ vận đơn (trung thực) hoặc người mà vận đơn được lập theo lệnh của người đó có thể chuyển nhượng quyền nhận hàng cho một người bất kỳ bằng cách chuyển giao vận đơn gốc đã được ký hậu hợp thức (duly endorsed). Khi nhận hàng người cầm giữ vận đơn theo lệnh phải xuất trình vận đơn gốc đã được ký hậu hợp thức cho người vận chuyển. Vận đơn đích danh khác với vận đơn theo lệnh ở chỗ nó ghi rõ tên tên người nhận hàng ở ô người nhận hàng (consignee box). Đa số vẫn thường tin rằng vận đơn đích danh được cho không phải là chứng từ sở hữu hàng hóa và không được chuyển nhượng và rằng người nhận hàng nêu đích danh trên vận đơn có thể nhận hàng mà không phải xuất trình vận đơn gốc miễn là anh ta có thể chứng minh rằng mình chính là người nhận hàng theo vận đơn.
Thực tế cho thấy điều này chỉ đúng với luật Mỹ và một số quốc gia áp dụng luật Mỹ. Theo đó vận đơn đích danh được xem như giấy gửi hàng bằng đường biển không được chuyển nhượng (non-negotiable sea waybill) và nhà chuyên chở có quyền trả hàng cho người nhận hàng nêu đích danh trên vận đơn mà không yêu cầu xuất trình vận đơn gốc. Tuy nhiên, tập quán này lại không đúng với luật pháp của các nước khác như Anh, Canada, Singapore, Pháp, các quốc gia trên bán đảo Scandinavia (Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan) và các quốc gia thành viên Quy tắc Hague-Visby …. nơi vẫn xem vận đơn đích danh tương tự như chứng từ sở hữu hàng hóa và người nhận hàng phải xuất trình vận đơn (cho dù là vận đơn theo lệnh hay vận đơn đích danh) cho người vận chuyển để nhận hàng.
Năm 2002 Tòa Phúc thẩm Singapore xử vụ tranh chấp APL Co Pte v Voss Peer (APL Co Pte v Voss Peer [2002] SRL 481; [2002] SGCA 41) đã ra phán quyết rằng việc xuất trình vận đơn gốc là cần thiết ngay cả khi vận đơn đích danh được sử dụng.
Sự việc như sau:
Voss, một doanh nghiệp kinh doanh ô tô ở Đức, ký hợp đồng bán một chiếc Mercedes Benz cho một công ty ở Hàn Quốc là Seohwan Trading Co., Ltd (Seohwan). Theo hợp đồng Seohwan đã trả trước một phần tiền hàng, số còn lại sẽ thanh toán sau khi nhận hàng. Voss thuê APL (người vận chuyển) vận chuyển hàng từ Hamburg đến Busan. Vận đơn do APL phát hành ghi rõ Seohwan là người nhận hàng đích danh. Bộ vận đơn gốc do Voss nắm giữ. Sau khi hàng đến cảng APL trả hàng cho Seohwan mà không yêu cầu xuất trình vận đơn gốc.
Do Seohwan không thanh toán số tiền còn lại của hợp đồng, Voss quay sang đòi APL thanh toán số tiền còn lại. Nhưng APL bác bỏ yêu cầu đòi tiền của Voss, cho rằng vận đơn đích danh cũng tương tự như giấy gửi hàng đường biển (tức là, không yêu cầu phải xuất trình khi trả hàng) nên họ được quyền trả hàng cho Seohwan mà không cần phải yêu cầu xuất trình vận đơn gốc.
Voss khởi kiện APL ra Tòa Sơ thẩm Singapore để đòi bồi hoàn phần tiền không được thanh toán. Tòa Sơ thẩm Singapore phán quyết rằng APL không được quyền trả hàng cho người nhận hàng đích danh mà không yêu cầu xuất trình vận đơn gốc, do vậy, APL phải bồi hoàn cho Voss. Không đồng ý với quyết định của Tòa Sơ thẩm, APL kháng cáo lên Tòa Phúc thẩm Singapore nhưng Tòa Phúc thẩm vẫn xử y án. Tòa cho rằng nếu các bên có ý định sử dụng giấy gửi hàng đường biển thì lẽ ra đã phải làm như thế. Mặc dù vận đơn đích danh không thể hiện tính có thể chuyển nhượng, nhưng điều này không có nghĩa là các bên có ý định loại bỏ yêu cầu xuất trình vận đơn khi trả hàng. Bằng cách phát hành chứng từ là vận đơn, ắt hẳn các bên đã có ý định giữ lại tất cả các đặc điểm khác của vận đơn, ngoại trừ tính có thể chuyển nhượng. Tòa Phúc Thẩm Singapore kết luận rằng ngay cả đối với vận đơn đích danh, chủ tàu cũng chỉ nên trả hàng khi nhận được vận đơn gốc.
Tương tự vụ tranh chấp APL Co Pte v Voss Peer, Thượng viện Anh (English House of Lords) trong phán quyết liên quan đến vụ The Rafaela S (The “Rafaela S” [2005]1 Lloyd’s Rep. 347) cũng đã giữ nguyên phán quyết của Tòa Phúc thẩm Anh cho rằng việc xuất trình vận đơn đích danh để nhận hàng là cần thiết ngay cả khi vận đơn không quy định như thế.
Trở lại với vụ tranh chấp giữa SH và TK để xem xét phán quyết của Tòa Sơ thẩm có “lạ thường”, trái ngược với luật pháp Việt Nam và thông lệ quốc tế.
Về loại vận đơn, Điều 86, khoản 2, Mục a BLHHVN 2005 quy định:”… vận đơn ghi rõ tên
người nhận hàng gọi là vận đơn đích danh”. Điều 89, khoản 3 quy định: “Vận đơn đích danh không được chuyển nhượng; người có tên trong vận đơn đích danh là người nhận hàng hợp pháp.” Như vậy, phù hợp quy định trên, có thể kết luận rằng vận đơn liên quan đến vụ tranh chấp giữa SH và TK là vận đơn đích danh không được chuyển nhượng bởi vận đơn ghi rõ EPE là người nhận hàng.
Việc nguyên đơn cũng như Tòa Sơ thẩm căn cứ Điều 3.1 mặt sau để khẳng định rằng thực chất vận đơn không phải là vận đơn đích danh mà là vận đơn theo lệnh là không đúng với quy định trên đây của BLHHVN 2005.
Về nghĩa vụ trả hàng, Điều 93 BLHHVN quy định: “Khi tàu biển đến cảng trả hàng, người vận chuyển có nghĩa vụ trả hàng cho người nhận hàng hợp pháp nếu có vận đơn gốc, giấy gửi hàng đường biển hoặc chứng từ vận tải khác có giá trị nhận hàng quy định tại Điều 89 của bộ luật này (BLHHVN)”.
Việc người vận chuyển (TK) trả hàng cho người nhận hàng mà không yêu cầu xuất trình vận đơn gốc là không đúng với quy định tại Điều 93 BLHHVN và luật của một số quốc gia như Singapore, Anh, Canada, các nước thuộc bán đảo Scandinavia… cũng như các quốc gia thành viên của Quy tắc Hague-Visby và Quy tắc Rotterdam (chưa thông qua).
Về quyền định đoạt hàng hóa của người gửi hàng, Điều 92 BLHHVN quy định: “Người gửi hàng có quyền định đoạt hàng hóa cho đến khi hàng hóa được trả cho người nhận hàng hợp pháp, nếu chưa giao quyền này cho người khác; có quyền yêu cầu dỡ hàng trước khi tàu biển bắt đầu chuyến đi, thay đổi người nhận hàng hay cảng trả hàng sau khi chuyến đi đã bắt đầu với điều kiện phải bồi thường mọi tổn thất và chi phí liên quan. Người vận chuyển chỉ có nghĩa vụ thực hiện các yêu cầu của người gửi hàng sau khi đã thu lại toàn bộ số vận đơn gốc đã ký phát.”
Căn cứ quy định tại Điều 92 trên đây, nếu SH giao trả lại vận đơn gốcTK và đồng ý thanh toán các chi phí phát sinh thì TK có nghĩa vụ phải thực hiện yêu cầu của SH, tức là, đưa hàng về Việt Nam.
Về xử lý hàng hóa bị lưu giữ, Điều 94, khoản 4 BLHHVN quy định: “Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày tàu biển đến cảng trả hàng, nếu không có người nhận số hàng gửi hoặc người nhận hàng không thanh toán hết các khoản nợ hoặc không đưa ra bảo đảm cần thiết thì người vận chuyển có quyền bán đấu giá số hàng đó để trừ nợ; nếu hàng hóa mau hỏng hoặc việc gửi là quá tốn kém thì người vận chuyển có quyền bán đấu giá trước thời hạn đó”.
Theo tóm tắt sự kiện, hàng đến cảng Sydney ngày 6/1/2007 và MOL giao hàng cho đại lý của TK vào ngày 14/1/2007 nhưng mãi đến 14/5/2007, tức là, sau hơn 4 tháng (120 ngày) kể từ ngày hàng đến cảng EPE mới đến nhận hàng.
Câu hỏi đặt ra là tại sao TK không đưa ra quyết định xử lý hàng bị lưu giữ trong kho ngoại quan Sydney trong thời hạn theo quy định của BLHHVN trong khi trước đó ngày 14/4/2007 SH có ra lệnh cho TK đưa hàng về Việt Nam nhưng TK không thực hiện!?
KẾT LUẬN
Rất tiếc rằng người viết không có điều kiện đọc toàn bộ nội dung quyết định của Tòa Sơ thẩm mà chỉ qua trao đổi và căn cứ vào bài viết của LS Võ Nhật Thăng để đưa ra ý kiến của riêng mình.
Phán quyết của Tòa Sơ thẩm mà LS Võ Nhật Thăng cho là “lạ thường” và trái ngược với luật pháp Việt Nam cũng như thông lệ quốc tế thực ra không lạ thường và hoàn toàn trái ngược với trái ngược với luật pháp Việt Nam cũng như thông lệ quốc tế.
Như đã phân tích ở trên, phán quyết của Tòa án Singapore hoặc Thượng viện Anh trong các tranh chấp liên quan đến việc giao hàng theo vận đơn đích danh như vụ APL Co Pte v Voss Peer (APL Co Pte v Voss Peer [2002] SRL 481; [2002] SGCA 41) hay The Rafaela S (The “Rafaela S” [2005]1 Lloyd’s Rep. 347) đều nghiêng về quan điểm cho rằng việc xuất trình vận đơn đích danh để nhận hàng là cần thiết ngay cả khi vận đơn không quy định như thế.
Cho dù lý lẽ và các căn cứ mà Tòa Sơ thẩm đưa ra để hậu thuẫn cho quan điểm rằng người vận chuyển thực hiện trả hàng phải yêu cầu xuất trình vận đơn (đích danh) chưa thực sự thuyết phục, nhưng dường như phán quyết của Tòa Sơ thẩm là phù hợp với Điều 93 BLHHVN 2005 và luật pháp của một số quốc gia có ngành hàng hải lâu đời như Anh, Pháp, Singapore, các quốc gia thuộc bán đảo Scandinavia (Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan) … cũng như các quốc quốc gia thành viên của Quy tắc Hague – Visby.
Trước khi hoàn thành bài này, người viết đã gửi cho LS Thăng lời bình của các chuyên gia quốc tế liên quan đến vụ tranh chấp giữa SH và TK đăng trên LCM Trade Services Update Volume 13, Issue 3/4, May– August 2011 và được LS Thăng cho biết rằng sau khi Tòa Sơ thẩm ra phán quyết như trên, bị đơn (TK) đã kháng cáo lên Tòa Phúc thẩm và Tòa Phúc thẩm đã ra phán quyết hủy bỏ phán quyết sơ thẩm của Tòa Sơ thẩm vì trái pháp luật, đồng thời yêu cầu Tòa Sơ Thẩm xét xử lại. Tuy nhiên từ đó hình như vụ việc vẫn treo lơ lửng vì có vẻ như Tòa Sơ Thẩm chưa tìm được một thẩm phán thích hợp có hiểu biết đầy đủ về các vấn đề liên quan trong vụ kiện để xét xử lại.
Hi vọng rằng bài viết này có thể gợi mở cho Tòa Phúc thẩm hướng giải quyết./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Eugene I Low, The Rafaela S – House of Lords Rule on Straight Bill of Lading. www.mayerbrown.com (2005)
2. Gillian Koh, APL Co Pte v Voss Peer [2002] SRL 481; [2002] SGCA 41. www.singaporelaw.sg
3. Nguyen Huu Duc, Straight or ‘To Order’ Bill of Lading, LCM Trade Services Update Volume 13, Issue 3/4, May– August 2011
4. Võ Nhật Thăng, Phán quyết lạ thường về vận đơn. Báo Diễn dàn Doanh nghiệp 2/2009
anonymous
October 23, 2011 at 4:10 pm
GreenroseFTU writes:trong trường hợp này tòa án xử dụng án lệ, judge-made law nên nếu đối chiếu với các bộ luật của Việt Nam là nước sử dụng legislation thì thầy mâu thuẫn là không thể tránh khỏi
anonymous
October 23, 2011 at 11:10 pm
Anonymous writes:Tuy nhiên, căn cứ vào Luật thương mại 2005, nếu hợp đồng không qui định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu thì QSH chuyển từ thời điểm giao hàng. Hợp đồng này bán theo đk FOB, do đó từ thời điểm hàng được xếp lên tàu ở cảng đi, quyền sở hữu đã chuyển sang người mua theo pháp luật. Vậy thì ý đầu tiên của Điều 92 BLHHVN mà Mr Old Man trích dẫn có còn ý nghĩa trong trường hợp này: “Người gửi hàng có quyền định đoạt hàng hóa cho đến khi hàng hóa được trả cho người nhận hàng hợp pháp, nếu chưa giao quyền này cho người khác"?
mroldmanvcb
October 25, 2011 at 11:10 pm
Không nên nhầm lẫn giữa việc chuyển giao rủi ro (transfer of risk) với việc chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa (transfer of title). Điều kiện FOB Incoterms 2010 không đề cập đến việc chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa mà chỉ đề cập đến thời điểm chuyển giao rủi ro (transfer of risks), theo đó rủi ro được chuyển từ người bán sang người mua sau khi hàng hóa được bốc lên tàu (the risk transfer occurs after the goods have been loaded on board the vessel), khác với over ship's rail của Incoterms 2000.
anonymous
October 16, 2013 at 2:10 am
Anonyme writes:Chào Mr Old Man! E đang làm luận văn thạc sĩ về vấn đề này và rất quan tâm đến các tranh chấp mà anh đề cập ở trên, bao gồm cả bài viết của anh trên LCM Trade Services. Nếu được anh có thể cho em xin bài viết này của anh không ạ? địa chỉ email của em là tranthuangiang@yahoo.com.vn
mroldmanvcb
October 16, 2013 at 7:10 am
Trade Services Update Volume 13 2011 including the related article was sent to your email address. Check your mailbox.
anonymous
October 23, 2013 at 12:10 am
Anonyme writes:Ở đây em cảm thấy nguyên đơn mong muốn dựa vào vận đơn để khởi kiện người chuyên chở là không hợp lý. Thứ nhât là vận đơn này không thể được xem là vận đơn theo lệnh, vì có ghi tên người nhận hàng trong box consignee. Nên người nhận hàng mới có quyền khởi kiện. Thư hai là những nội dung mà nguyên đơn khởi kiện bên vận chuyển liên quan đến lỗi của người vận chuyển đã giao hàng cho bên nhận hàng mà ko quan tâm đến việc người nhận hàng có vận đơn gốc hay không, làm cho bên bán không thể yêu cầu bên nhận hàng phải thanh toán rồi mới giao vận đơn để có thể nhận hàng. Vậy nguyên đơn cứ kiện bên bán trên cơ sở bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Không cần phải chứng minh vận đơn là vận đơn theo lệnh và mình vẫn có quyền khởi kiện
mroldmanvcb
October 23, 2013 at 9:10 am
Người Việt mình có câu: "Nắm thằng có tóc chứ ai nắm kẻ trọc đầu". EPE nhận hàng và biến mất hoặc phá sản thì shipper nên phải kiện hãng tàu thôi. Như đã khẳng định trong bài viết, việc giao hàng theo vận đơn đích danh có cần xuất trình vận đơn gốc hay không còn tùy theo luật quốc gia hay luật quốc tế nào điều chỉnh vận đơn đó.
hongnhung
March 10, 2017 at 5:31 pm
Con chào chú,
Con đang nghiên cứu case này cho môn học. Chú có thể cho con xin bản mềm Straight or ‘To Order’ Bill of Lading, LCM Trade Services Update Volume 13, Issue 3/4, May– August 2011 được không ạ?
Email: hntrinh1906@gmail.com
Con cảm ơn chú nhiều!
mroldman
March 14, 2017 at 10:12 am
Chưa tìm ra bản mềm đó nằm ở đâu. Bạn thử tham khảo Q&A liên quan dưới đây nhé:
STRAIGHT BILL OF LADING vs TO ORDER BILL OF LADING
Thursday, June 9, 2011 12:07:38 PM
Straight BL vs To order BL
QUESTION FROM Tu PHAN (MR)
Dear Anh Huu Duc
Em thuong xuyen tham khao cac bai viet cua Anh ve nghiep vu chung tu/L/C. Rat bo ich & that su nguong mo Anh;
Hiện tại em có tình huống về chứng từ liên quan đến nghiệp vụ Vận đơn theo lệnh ( to order B/L)
Theo Anh Đức thì tình huống (case) : ( 1), (2) và (3)
– Đối với nhà xuất khẩu, tình huống nào có lợi nhất ?
– Khác biệt giữa (2) và (3) như thế nào ?
Trước đây, công ty em ( nhà xuất khẩu ), thường dùng (1) + (3), tuy nhiên vẫn chưa hiểu rõ, và tính huống (3) thường bị ngân hàng nước ngoài charge phí “consignee”
Rất mong nhận được hồi âm của Anh Đức.
Cám ơn Anh nhiều & Chúc Anh nhiều sức khỏe.
CASE 1
Shipper: ADS Co.,Ltd, Vietnam
Consignee: SLP Inc, Canada
Notify: The same as consignee
Case (2)
Shipper: ADS Co.,Ltd, Vietnam
Consignee: To order
Notify: SLP Inc, Canada
Case (3)
Shipper: ADS Co.,Ltd, Vietnam
Consignee: To the order of HSBC
Notify: SLP Inc, Canada
With Best Regards
Tu PHAN (mr )
—————————-
ANSWER
Chào bạn,
Theo mô tả của bạn, vận đơn lập theo Case (1) là vận đơn đích danh (Straight B/L). Vận đơn đích danh là vận đơn được phát hành ghi đích danh tên người nhận hàng (a named consignee) và không thể chuyển nhượng cho người khác bằng cách ký hậu. Theo luật hàng hải của một số quốc gia, người nhận hàng ghi trên vận đơn này có thể nhận hàng mà không cần phải xuất trình vận đơn gốc miễn là anh ta chứng minh anh ta đúng là người nhận hàng ghi trên vận đơn. Nếu bạn xuất khẩu thanh toán bằng hình thức nhờ thu hoặc L/C thì vận đơn đích danh không có lợi cho nhà xuất khẩu bởi nhà nhập khẩu có thể nhận hàng nhưng lại từ chối trả tiền nếu như chứng từ xuất trình theo L/C bất hợp lệ.
Case (2) là vận đơn theo lệnh ký hậu để trống. Bất kỳ người cầm giữ trung thực (holder in due course) vận đơn này đều có thể xuất trình vận đơn để nhận hàng. Nếu thanh toán bằng hình thức nhờ thu hoặc L/C, nhà xuất khẩu KHÔNG NÊN gửi vận đơn này trực tiếp cho nhập khẩu. Nếu buộc phải phát hành vận đơn theo lệnh, nhà xuất khẩu nên gửi 3/3 vận đơn gốc qua ngân hàng thu ngân hoặc ngân hàng phát hành.
Case (3) là vận đơn lập theo lệnh của ngân hàng, trong trường hợp của bạn là theo lệnh của HSBC. Bạn không nói rõ nhưng tôi đoán rằng HSBC trong trường hợp của bạn là ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu.
Đối với giao dịch L/C vận đơn lập theo lệnh của NHPH là chuyện bình thường và NHPH cũng thường yêu cầu vận đơn như vậy nhằm bảo đảm rằng họ nắm giữ quyền sở hữu đối với hàng hóa cho đến khi nhà nhập khẩu hoàn thành nghĩa vụ tài chính đối với hợp đồng phát hành L/C (ký quỹ đủ hoặc nhận nợ vay để thanh toán L/C), lúc đó NHPH mới ký hậu cho nhà nhập khẩu để đi nhận hàng. Tôi không biết HSBC có charge phí ký hậu vận đơn hay không nhưng Vietcombank thì không thu phí ký hậu trong trường hợp L/C do Vietcombank phát hành.
Nhà xuất khẩu thường muốn vận đơn lập theo lệnh của ngân hàng bởi vì họ cảm thấy an toàn hơn khi ràng buộc thêm trách nhiệm đối với ngân hàng khi ký hậu vận đơn cho nhà nhập khẩu. Do vậy, có thể đây là lý do một số ngân hàng thu phí ký hậu vận đơn.
Mr. Old Man không trả lời trực tiếp từng câu hỏi nhưng có lẽ từ phân tích ở trên bạn có thể tự rút ra câu trả lời cho vấn đề của bạn.
Thân chào,
Mr. Old Man
mroldman
March 14, 2017 at 10:16 am
Và thêm bài tiếng Việt này nhé:
TRANH CHẤP VỀ TRẢ HÀNG THEO VẬN ĐƠN ĐÍCH DANH
Banking Review Volume 18 9/2011
Nguyễn Hữu Đức
Trên báo Diễn đàn Doanh nghiệp số ra ngày 25/2/2009 LS Võ Nhật Thăng, Trọng tài viên VIAC, có đăng bài viết “Phán quyết lạ thường về vận đơn” cho rằng phán quyết của Tòa Sơ thẩm (Việt Nam) đối với vụ tranh chấp giữa SH (người gửi hàng) và TK (công ty giao nhận/người vận chuyển) liên quan đến trả hàng theo vận đơn đích danh là “lạ thường” và trái ngược với pháp luật của Việt Nam cũng như thông lệ hàng hải quốc tế.
Người viết bài này đã có cơ hội chia sẻ quan điểm của LS Thăng trên LCM Trade Services Update Volume 13, Issue 3/4, May– August 2011 và đã nhận được nhiều ý kiến phản hồi khác nhau của các chuyên gia quốc tế và đây cũng là cở sở để người viết thực hiện bài viết này.
TÓM TẮT TRANH CHẤP
(Tên đầy đủ của các bên liên quan đã được thay đổi)
Cuối năm 2006, Công ty SH Việt Nam (SH) ký hợp động bán một container gồm 2.970 túi xách và balô cho Công ty EPE Australia (EPE) theo giá FOB TP HCM 87.035 USD. Hợp đồng mua bán đơn giản chỉ có một trang, không đề cập khi nào quyền sở hữu lô hàng chuyển từ người bán sang người mua.
Sau khi ký hợp đồng mua bán, EPE uỷ thác Công ty Giao nhận Vận tải TK Việt Nam (TK) thuê tàu chở hàng từ TP HCM đến Sydney. TK ký hợp đồng lưu cước với người vận chuyển Mitsui O.S.K Lines (MOL).
Ngày 20/12/2006 hàng được bốc lên tàu tại TP HCM, MOL cấp vận đơn chủ (Master B/L) cho TK, trên cơ sở đó TK cấp vận đơn thứ cấp (House B/L) theo mẫu FIATA cho SH với tư cách là người giao hàng. Vận đơn ghi rõ EPE (cùng với địa chỉ) là người nhận hàng đích danh ở cảng đích.
Ngày 6/1/2007 hàng đến Sydney.
Ngày 14/1/2007 MOL giao hàng cho đại lý của TK. Do EPE không đến nhận hàng, phí lưu kho, phạt lưu container lên đến 19.000 AUD.
Ngày 1/3/2007 đại lý của Tonkin đưa hàng vào kho ngoại quan của Hải quan Sydney để xử lý.
Ngày 14/4/2007, SH ra lệnh cho TK đưa hàng về Việt Nam nhưng TK không thực hiện với lý do hàng đã đưa vào kho ngoại quan, hơn nữa, đây là vận đơn đích danh nên SH không thể ra lệnh chở hàng về.
Ngày 14/5/2007, EPE đến kho ngoại quan nhận hàng, nhưng đại lý của TK không thu hồi vận đơn gốc.
EPE nhận hàng nhưng sau đó không thực hiện thanh toán số tiền còn lại cho SH. SH khởi kiện TK ra Tòa Sơ thẩm đòi bồi thường 1,7 tỷ đồng bao gồm trị giá FOB của lô hàng 87.035 USD và khoảng 350.000 VNĐ là phí lưu kho lưu bãi.
Lý lẽ của nguyên đơn
Trước Tòa, nguyên đơn (SH) cho rằng vận đơn này về hình thức có vẻ đích danh nhưng thực chất là vận đơn theo lệnh. Ô chữ “người nhận hàng” ở mặt trước chỉ là ô chữ ghi lại tên và địa chỉ chứ không có nghĩa đấy là người nhận hàng đích danh. SH đang nắm giữ bản gốc nên vẫn là chủ sở hữu lô hàng.
Nguyên đơn cho rằng cho dù là vận đơn là vận đơn đích danh nhưng vẫn có thể chuyển nhượng được vì Điều 3.1 mặt sau ghi rằng “Vận đơn này được ký phát theo hình thức có thể chuyển nhượng được trừ khi nó được ghi không thể chuyển nhượng được” (This FBL is issued in a negotiable form unless it is marked “non-negotiable).
Nguyên đơn cũng cho rằng hợp đồng mua bán của họ là hợp đồng có giá FOB TP HCM 87.035 USD chứ không phải là hợp đồng giao hàng theo điều kiện FOB Incoterms 2000. Vì vậy họ vẫn có quyền khởi kiện người vận chuyển để đòi bồi thường.
Lý lẽ của bị đơn
Bị đơn (TK) khẳng định SH đã ký hợp đồng mua bán quá sơ sài và lỏng lẻo với công ty ma thì phải tự gánh lấy hậu quả (Tại phiên tòa, TK thông báo theo website đăng ký doanh nghiệp của Chính phủ Australia http://www.abr.business.gov.au, không có công ty nào có tên là EPE với mã số ABN2912062554-NSW 2020).
Mặt khác, bị đơn theo Điều 62 Luật Thương mại VN, do hợp đồng mua bán không quy định về việc khi nào quyền sở hữu về lô hàng chuyển từ người bán sang người mua nên quyền sở hữu lô hàng này đã chuyển sang người mua kể từ ngày 20/12/2006, (tức ngày giao hàng ở TP HCM).
Ngoài ra, bị đơn còn khẳng định rằng vận đơn do họ cấp “Ghi rõ tên người nhận hàng gọi là vận đơn đích danh” như Điều 86, khoản 1, Mục a Bộ Luật Hàng Hải Việt Nam quy định. Đã là vận đơn đích danh thì không chuyển nhượng được và người nhận hàng có tên trong vận đơn đích danh là người nhận hàng hợp pháp và phù hợp với quy định trong Incoterms 2000, chỉ có họ mới có quyền khởi kiện người vận chuyển nếu thiệt hại thực tế xảy ra do lỗi của người vận chuyển.
Bị đơn cũng yêu cầu Tòa tham khảo án lệ liên quan đến quyền khởi kiện của người gửi hàng theo vận đơn đích danh mà Tòa án Nhân dân và Tòa án Phúc thẩm Tối cao xét xử năm 2004 -2005. Cả hai tòa đều căn cứ theo Bộ Luật Hàng hải Việt Nam để cho rằng vận đơn đích danh là vận đơn không được chuyển nhượng và chỉ người có tên ghi trên vận đơn là người nhận hàng hợp pháp, và chỉ người nhận hàng mới có quyền khởi kiện người vận chuyển.
Phán quyết của Tòa Sơ thẩm
1. Căn cứ vào Điều 3.1 mặt trước của vận đơn (Toà đã nhầm lẫn, thực tế là mặt sau của vận đơn), vận đơn này không phải là vận đơn đích danh mà thực chất là vận đơn theo lệnh.
2. Toà cho rằng các chứng từ Hợp đồng mua bán, Hoá đơn thương mại, Tờ khai hải quan hàng xuất khẩu của lô hàng này không thể hiện rõ điều kiện giao hàng FOB.
3. TK phải bồi thường cho SH 57.000 USD (sau khi đã trừ đi phần không ăn khớp giữa hợp đồng mua bán, hoá đơn thương mại, tờ khai thương mại, tờ khai hải quan hàng xuất khẩu và số lượng hàng trên vận đơn).
Bình luận của LS Võ Nhật Thăng
LS Thăng cho rằng phán quyết trên của toà án này đã đi ngược lại thông lệ hàng hải và thương mại quốc tế cũng như luật pháp Việt Nam và luật pháp Australia (nơi hàng đến).
LS thăng cho rằng có lẽ trong lịch sử phát triển hơn 300 năm của ngành hàng hải thế giới lần đầu tiên có một toà án lại căn cứ vào mặt sau (toà nhầm lẫn gọi là mặt trước) để phán quyết một vận đơn là đích danh hay theo lệnh.
Bản thân Toà nói rằng Hợp đồng thương mại, Hoá đơn thương mại, Tờ khai hàng xuất khẩu không thể hiện rõ điều kiện giao hàng FOB, trong khi đó Hợp đồng mua bán ghi rõ: “Giá hàng FOB thành phố Hồ Chí Minh 87.035USD” và Hoá đơn thương mại cũng ghi rõ: “Giá FOB thành phố Hồ Chí Minh 87.035 USD, đồng thời Tờ khai hải quan hàng xuất khẩu lô hàng này đề ngày 18/12/2006 ở ô số 20 ghi rõ: “Điều kiện giao hàng: FOB”. Đây không phải là hợp đồng giao hàng theo điều kiện FOB thì nó là hợp đồng giao hàng theo điều kiện gì?”.
Kết luận bài viết LS Thăng cảnh báo các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hoá theo Incoterms 2000 (nay là Incoterms 2010) ra nước ngoài, nhất là thị trường Anh, Mỹ, Australia, Ấn Độ… nên sử dụng vận đơn theo lệnh để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, hết sức tránh dùng vận đơn đích danh, nhất là khi xuất hàng sang các thị trường áp dụng luật án lệ như những nước nói trên.
PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN
Trong bài viết này, người viết căn cứ các quy định tại Bộ Luật Hàng hải Việt Nam 2005 (BLHHVN) và thông lệ hàng hải quốc tế để xem xét quyết định của Tòa Sơ thẩm có phù hợp với luật pháp Việt Nam và thông lệ hàng hải quốc tế hay không.
Vận đơn đích danh là gì? Vận đơn đích danh có phải là chứng từ sở hữu hàng hóa? Người nhận hàng đích danh có phải xuất trình vận đơn gốc cho nhà chuyên chỏ?
Trong vận chuyển đường biển quốc tế có hai loại vận đơn phổ biến được biết đến, đó là vận đơn theo lệnh (to order bill of lading) và vận đơn đích danh (straight bill of lading).
Vận đơn theo lệnh là chứng từ sở hữu hàng hóa (document of title) được lập theo lệnh ký hậu để trống (to order blank endorsed) hoặc theo lệnh của một bên được chỉ định, ví dụ, theo lệnh của Công ty ABC (to the order of ABC Company. Vận đơn theo lệnh cho phép người cầm giữ vận đơn (trung thực) hoặc người mà vận đơn được lập theo lệnh của người đó có thể chuyển nhượng quyền nhận hàng cho một người bất kỳ bằng cách chuyển giao vận đơn gốc đã được ký hậu hợp thức (duly endorsed). Khi nhận hàng người cầm giữ vận đơn theo lệnh phải xuất trình vận đơn gốc đã được ký hậu hợp thức cho người vận chuyển. Vận đơn đích danh khác với vận đơn theo lệnh ở chỗ nó ghi rõ tên tên người nhận hàng ở ô người nhận hàng (consignee box). Đa số vẫn thường tin rằng vận đơn đích danh được cho không phải là chứng từ sở hữu hàng hóa và không được chuyển nhượng và rằng người nhận hàng nêu đích danh trên vận đơn có thể nhận hàng mà không phải xuất trình vận đơn gốc miễn là anh ta có thể chứng minh rằng mình chính là người nhận hàng theo vận đơn.
Thực tế cho thấy điều này chỉ đúng với luật Mỹ và một số quốc gia áp dụng luật Mỹ. Theo đó vận đơn đích danh được xem như giấy gửi hàng bằng đường biển không được chuyển nhượng (non-negotiable sea waybill) và nhà chuyên chở có quyền trả hàng cho người nhận hàng nêu đích danh trên vận đơn mà không yêu cầu xuất trình vận đơn gốc. Tuy nhiên, tập quán này lại không đúng với luật pháp của các nước khác như Anh, Canada, Singapore, Pháp, các quốc gia trên bán đảo Scandinavia (Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan) và các quốc gia thành viên Quy tắc Hague-Visby …. nơi vẫn xem vận đơn đích danh tương tự như chứng từ sở hữu hàng hóa và người nhận hàng phải xuất trình vận đơn (cho dù là vận đơn theo lệnh hay vận đơn đích danh) cho người vận chuyển để nhận hàng.
Năm 2002 Tòa Phúc thẩm Singapore xử vụ tranh chấp APL Co Pte v Voss Peer (APL Co Pte v Voss Peer [2002] SRL 481; [2002] SGCA 41) đã ra phán quyết rằng việc xuất trình vận đơn gốc là cần thiết ngay cả khi vận đơn đích danh được sử dụng.
Sự việc như sau:
Voss, một doanh nghiệp kinh doanh ô tô ở Đức, ký hợp đồng bán một chiếc Mercedes Benz cho một công ty ở Hàn Quốc là Seohwan Trading Co., Ltd (Seohwan). Theo hợp đồng Seohwan đã trả trước một phần tiền hàng, số còn lại sẽ thanh toán sau khi nhận hàng. Voss thuê APL (người vận chuyển) vận chuyển hàng từ Hamburg đến Busan. Vận đơn do APL phát hành ghi rõ Seohwan là người nhận hàng đích danh. Bộ vận đơn gốc do Voss nắm giữ. Sau khi hàng đến cảng APL trả hàng cho Seohwan mà không yêu cầu xuất trình vận đơn gốc.
Do Seohwan không thanh toán số tiền còn lại của hợp đồng, Voss quay sang đòi APL thanh toán số tiền còn lại. Nhưng APL bác bỏ yêu cầu đòi tiền của Voss, cho rằng vận đơn đích danh cũng tương tự như giấy gửi hàng đường biển (tức là, không yêu cầu phải xuất trình khi trả hàng) nên họ được quyền trả hàng cho Seohwan mà không cần phải yêu cầu xuất trình vận đơn gốc.
Voss khởi kiện APL ra Tòa Sơ thẩm Singapore để đòi bồi hoàn phần tiền không được thanh toán.
Tòa Sơ thẩm Singapore phán quyết rằng APL không được quyền trả hàng cho người nhận hàng đích danh mà không yêu cầu xuất trình vận đơn gốc, do vậy, APL phải bồi hoàn cho Voss. Không đồng ý với quyết định của Tòa Sơ thẩm, APL kháng cáo lên Tòa Phúc thẩm Singapore nhưng Tòa Phúc thẩm vẫn xử y án. Tòa cho rằng nếu các bên có ý định sử dụng giấy gửi hàng đường biển thì lẽ ra đã phải làm như thế. Mặc dù vận đơn đích danh không thể hiện tính có thể chuyển nhượng, nhưng điều này không có nghĩa là các bên có ý định loại bỏ yêu cầu xuất trình vận đơn khi trả hàng. Bằng cách phát hành chứng từ là vận đơn, ắt hẳn các bên đã có ý định giữ lại tất cả các đặc điểm khác của vận đơn, ngoại trừ tính có thể chuyển nhượng. Tòa Phúc Thẩm Singapore kết luận rằng ngay cả đối với vận đơn đích danh, chủ tàu cũng chỉ nên trả hàng khi nhận được vận đơn gốc.
Tương tự vụ tranh chấp APL Co Pte v Voss Peer, Thượng viện Anh (English House of Lords) trong phán quyết liên quan đến vụ The Rafaela S (The “Rafaela S” [2005]1 Lloyd’s Rep. 347) cũng đã giữ nguyên phán quyết của Tòa Phúc thẩm Anh cho rằng việc xuất trình vận đơn đích danh để nhận hàng là cần thiết ngay cả khi vận đơn không quy định như thế.
Trở lại với vụ tranh chấp giữa SH và TK để xem xét phán quyết của Tòa Sơ thẩm có “lạ thường”, trái ngược với luật pháp Việt Nam và thông lệ quốc tế.
Về loại vận đơn, Điều 86, khoản 2, Mục a BLHHVN 2005 quy định:”… vận đơn ghi rõ tên người nhận hàng gọi là vận đơn đích danh”. Điều 89, khoản 3 quy định: “Vận đơn đích danh không được chuyển nhượng; người có tên trong vận đơn đích danh là người nhận hàng hợp pháp.” Như vậy, phù hợp quy định trên, có thể kết luận rằng vận đơn liên quan đến vụ tranh chấp giữa SH và TK là vận đơn đích danh không được chuyển nhượng bởi vận đơn ghi rõ EPE là người nhận hàng.
Việc nguyên đơn cũng như Tòa Sơ thẩm căn cứ Điều 3.1 mặt sau để khẳng định rằng thực chất vận đơn không phải là vận đơn đích danh mà là vận đơn theo lệnh là không đúng với quy định trên đây của BLHHVN 2005.
Về nghĩa vụ trả hàng, Điều 93 BLHHVN quy định: “Khi tàu biển đến cảng trả hàng, người vận chuyển có nghĩa vụ trả hàng cho người nhận hàng hợp pháp nếu có vận đơn gốc, giấy gửi hàng đường biển hoặc chứng từ vận tải khác có giá trị nhận hàng quy định tại Điều 89 của bộ luật này (BLHHVN)”.
Việc người vận chuyển (TK) trả hàng cho người nhận hàng mà không yêu cầu xuất trình vận đơn gốc là không đúng với quy định tại Điều 93 BLHHVN và luật của một số quốc gia như Singapore, Anh, Canada, các nước thuộc bán đảo Scandinavia… cũng như các quốc gia thành viên của Quy tắc Hague-Visby và Quy tắc Rotterdam (chưa thông qua).
Về quyền định đoạt hàng hóa của người gửi hàng, Điều 92 BLHHVN quy định: “Người gửi hàng có quyền định đoạt hàng hóa cho đến khi hàng hóa được trả cho người nhận hàng hợp pháp, nếu chưa giao quyền này cho người khác; có quyền yêu cầu dỡ hàng trước khi tàu biển bắt đầu chuyến đi, thay đổi người nhận hàng hay cảng trả hàng sau khi chuyến đi đã bắt đầu với điều kiện phải bồi thường mọi tổn thất và chi phí liên quan. Người vận chuyển chỉ có nghĩa vụ thực hiện các yêu cầu của người gửi hàng sau khi đã thu lại toàn bộ số vận đơn gốc đã ký phát.”
Căn cứ quy định tại Điều 92 trên đây, nếu SH giao trả lại vận đơn gốcTK và đồng ý thanh toán các chi phí phát sinh thì TK có nghĩa vụ phải thực hiện yêu cầu của SH, tức là, đưa hàng về Việt Nam.
Về xử lý hàng hóa bị lưu giữ, Điều 94, khoản 4 BLHHVN quy định: “Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày tàu biển đến cảng trả hàng, nếu không có người nhận số hàng gửi hoặc người nhận hàng không thanh toán hết các khoản nợ hoặc không đưa ra bảo đảm cần thiết thì người vận chuyển có quyền bán đấu giá số hàng đó để trừ nợ; nếu hàng hóa mau hỏng hoặc việc gửi là quá tốn kém thì người vận chuyển có quyền bán đấu giá trước thời hạn đó”.
Theo tóm tắt sự kiện, hàng đến cảng Sydney ngày 6/1/2007 và MOL giao hàng cho đại lý của TK vào ngày 14/1/2007 nhưng mãi đến 14/5/2007, tức là, sau hơn 4 tháng (120 ngày) kể từ ngày hàng đến cảng EPE mới đến nhận hàng.
Câu hỏi đặt ra là tại sao TK không đưa ra quyết định xử lý hàng bị lưu giữ trong kho ngoại quan Sydney trong thời hạn theo quy định của BLHHVN trong khi trước đó ngày 14/4/2007 SH có ra lệnh cho TK đưa hàng về Việt Nam nhưng TK không thực hiện!?
KẾT LUẬN
Rất tiếc rằng người viết không có điều kiện đọc toàn bộ nội dung quyết định của Tòa Sơ thẩm mà chỉ qua trao đổi và căn cứ vào bài viết của LS Võ Nhật Thăng để đưa ra ý kiến của riêng mình.
Phán quyết của Tòa Sơ thẩm mà LS Võ Nhật Thăng cho là “lạ thường” và trái ngược với luật pháp Việt Nam cũng như thông lệ quốc tế thực ra không lạ thường và hoàn toàn trái ngược với trái ngược với luật pháp Việt Nam cũng như thông lệ quốc tế.
Như đã phân tích ở trên, phán quyết của Tòa án Singapore hoặc Thượng viện Anh trong các tranh chấp liên quan đến việc giao hàng theo vận đơn đích danh như vụ APL Co Pte v Voss Peer (APL Co Pte v Voss Peer [2002] SRL 481; [2002] SGCA 41) hay The Rafaela S (The “Rafaela S” [2005]1 Lloyd’s Rep. 347) đều nghiêng về quan điểm cho rằng việc xuất trình vận đơn đích danh để nhận hàng là cần thiết ngay cả khi vận đơn không quy định như thế.
Cho dù lý lẽ và các căn cứ mà Tòa Sơ thẩm đưa ra để hậu thuẫn cho quan điểm rằng người vận chuyển thực hiện trả hàng phải yêu cầu xuất trình vận đơn (đích danh) chưa thực sự thuyết phục, nhưng dường như phán quyết của Tòa Sơ thẩm là phù hợp với Điều 93 BLHHVN 2005 và luật pháp của một số quốc gia có ngành hàng hải lâu đời như Anh, Pháp, Singapore, các quốc gia thuộc bán đảo Scandinavia (Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan) … cũng như các quốc quốc gia thành viên của Quy tắc Hague – Visby.
Trước khi hoàn thành bài này, người viết đã gửi cho LS Thăng lời bình của các chuyên gia quốc tế liên quan đến vụ tranh chấp giữa SH và TK đăng trên LCM Trade Services Update Volume 13, Issue 3/4, May– August 2011 và được LS Thăng cho biết rằng sau khi Tòa Sơ thẩm ra phán quyết như trên, bị đơn (TK) đã kháng cáo lên Tòa Phúc thẩm và Tòa Phúc thẩm đã ra phán quyết hủy bỏ phán quyết sơ thẩm của Tòa Sơ thẩm vì trái pháp luật, đồng thời yêu cầu Tòa Sơ Thẩm xét xử lại. Tuy nhiên từ đó hình như vụ việc vẫn treo lơ lửng vì có vẻ như Tòa Sơ Thẩm chưa tìm được một thẩm phán thích hợp có hiểu biết đầy đủ về các vấn đề liên quan trong vụ kiện để xét xử lại.
Hi vọng rằng bài viết này có thể gợi mở cho Tòa Phúc thẩm hướng giải quyết./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Eugene I Low, The Rafaela S – House of Lords Rule on Straight Bill of Lading. http://www.mayerbrown.com (2005)
2. Gillian Koh, APL Co Pte v Voss Peer [2002] SRL 481; [2002] SGCA 41. http://www.singaporelaw.sg
3. Nguyen Huu Duc, Straight or ‘To Order’ Bill of Lading, LCM Trade Services Update Volume 13, Issue 3/4, May– August 2011
4. Võ Nhật Thăng, Phán quyết lạ thường về vận đơn. Báo Diễn dàn Doanh nghiệp 2/2009
Comments
Unregistered user # Sunday, October 23, 2011 4:58:54 PM
Greenrose FTU writes:
Trong trường hợp này tòa án xử dụng án lệ, judge-made law nên nếu đối chiếu với các bộ luật của Việt Nam là nước sử dụng legislation thì thầy mâu thuẫn là không thể tránh khỏi
Unregistered user # Sunday, October 23, 2011 11:19:23 PM
Anonymous writes:
Tuy nhiên, căn cứ vào Luật thương mại 2005, nếu hợp đồng không qui định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu thì QSH chuyển từ thời điểm giao hàng. Hợp đồng này bán theo đk FOB, do đó từ thời điểm hàng được xếp lên tàu ở cảng đi, quyền sở hữu đã chuyển sang người mua theo pháp luật. Vậy thì ý đầu tiên của Điều 92 BLHHVN mà Mr Old Man trích dẫn có còn ý nghĩa trong trường hợp này: “Người gửi hàng có quyền định đoạt hàng hóa cho đến khi hàng hóa được trả cho người nhận hàng hợp pháp, nếu chưa giao quyền này cho người khác”?
Mr. Old Manmroldmanvcb # Tuesday, October 25, 2011 11:07:09 PM
Không nên nhầm lẫn giữa việc chuyển giao rủi ro (transfer of risk) với việc chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa (transfer of title).
Điều kiện FOB Incoterms 2010 không đề cập đến việc chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa mà chỉ đề cập đến thời điểm chuyển giao rủi ro (transfer of risks), theo đó rủi ro được chuyển từ người bán sang người mua sau khi hàng hóa được bốc lên tàu (the risk transfer occurs after the goods have been loaded on board the vessel), khác với over ship’s rail của Incoterms 2000.